Cụ thể từ năm 2007 đến nay, thực hiện Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đã có tới 64 doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài.

Sở dĩ các doanh nghiệp này bị thu hồi giấy phép vì những lý do như sau: nộp lại giấy phép do chuyển giao cho công ty con (15 doanh nghiệp), nộp lại giấy phép do chấm dứt hoạt động (19 doanh nghiệp); bị thu hồi giấy phép do không đáp ứng đủ điều kiện cấp đổi giấy phép theo luật (2 doanh nghiệp), bị thu hồi giấy phép do vi phạm các quy định của luật (7 doanh nghiệp), bị thu hồi giấy phép do không làm hồ sơ đổi giấy phép theo luật (17 doanh nghiệp).

Đặc biệt, trong năm 2017, đã có 4 doanh nghiệp bị rút giấy phép do vi phạm các quy định Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như: không trực tiếp tuyển dụng lao động, cho người khác sử dụng giấy phép của mình để hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức tuyển chọn, thu tiền trái phép của người lao động, đưa người lao động ra nước ngoài làm việc nhưng không đăng ký hợp đồng cung ứng lao động theo quy định.

Lao động chuẩn bị xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài

Lao động chuẩn bị xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài

Mặc dù đã bị thu hồi giấy phép song theo quy định của Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, các doanh nghiệp vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng cung ứng lao động đã ký với đối tác nước ngoài và hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi hợp đồng còn hiệu lực.

Ngoài ra, các doanh nghiệp này phải báo cáo Cục Quản lý Lao động Ngoài nước về các hợp đồng đang còn hiệu lực, số lượng người lao động đang làm việc ở nước ngoài, số lượng người lao động đã được tuyển chọn để đưa đi làm việc ở nước ngoài và phương án thực hiện trách nhiệm đối với người lao động theo các hợp đồng còn hiệu lực.

Theo Gia Đình Việt Nam