Quy định chính sách hỗ trợ bảo tồn, sử dụng các bài thuốc dân gian, phương pháp chữa bệnh cổ truyền có giá trị của các DTTS; đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh chất lượng cao ở vùng DTTS, miền núi. Tiếp tục tăng cường bác sỹ về công tác tại BV tuyến huyện, trạm y tế xã vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ bác sỹ là người DTTS để góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân.

Đồng thời, đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Khám, chữa bệnh theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, dịch vụ khám, chữa bệnh cho đồng bào DTTS để người dân được thụ hưởng đầy đủ quyền được khám, chữa bệnh và chính sách theo quy định của Luật BHYT.

Ủy ban Dân tộc đã kiến nghị các Bộ, ngành, địa phương quan tâm bố trí kinh phí thực hiện các hoạt động truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật, quyền và lợi ích về khám, chữa bệnh cho đồng bào DTTS và miền núi.

Cụ thể, năm 2016, tỷ lệ khám, chữa bệnh BHYT ở tuyến xã là 21,9%; năm 2017, là 19,9%; năm 2018, là 18,5%. Tương ứng với đó, chi khám, chữa bệnh BHYT năm 2016 là 2,5%; năm 2017 và 2018 là 2,6%/năm. Nếu tính cả tuyến huyện, xã, chi khám, chữa bệnh BHYT năm 2016 đạt 30,3%; năm 2017, 32,6%; năm 2018, 31%.

Riêng về BHYT, mặc dù kết quả cấp thẻ BHYT miễn phí đạt tỷ lệ cao (năm 2018, 93,68% đồng bào DTTS có thẻ BHYT) nhưng số lượt người khám, chữa bệnh, cũng như chất lượng khám, chữa bệnh BHYT ở cơ sở vùng DTTS và miền núi chưa thật sự hiệu quả.

Trong tổng số 26.557 nhân viên y tế trạm y tế xã thì có 12,3% là bác sỹ, số còn lại là y tá, điều dưỡng, nữ hộ sinh; khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh có chất lượng còn hạn chế, tỷ lệ trẻ em DTTS dưới 01 tuổi tử vong còn cao, tỷ lệ phụ nữ mang thai được thăm, khám trong thai kỳ mới đạt 71%, phụ nữ sinh con tại nhà tới 36,3%, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em DTTS là 32%.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, công tác y tế, chăm sóc sức khỏe và BHYT cho đồng bào DTTS vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc như: Tỷ lệ bác sỹ/01 vạn dân còn thấp, thiếu cán bộ y tế có chuyên môn sâu, cán bộ người địa phương; cơ sở vật chất y tế ở vùng DTTS, miền núi còn thiếu, chưa đồng bộ (tính đến tháng 07/2018, mới có 9.821 trạm y tế xã đủ điều kiện khám, chữa bệnh BHYT); tại 01 số tỉnh có tỷ lệ bác sĩ/trạm y tế rất thấp như Lai Châu 15,9%, Lào Cai 28,6%, Điện Biên 33,9%, Khánh Hòa 23,5%....

Chính sách hỗ trợ cho đồng bào DTTS sinh con đúng chính sách, chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản (kiêm thêm nhiệm vụ cô đỡ thôn, bản) đã được triển khai thực hiện hiệu quả, góp phần phát huy vai trò cầu nối giữa y tế xã với người dân; công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ làm công tác dân tộc, đồng bào DTTS được chú trọng (trong đó, có nội dung lồng ghép tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về khám, chữa bệnh, BHYT, dân số...).

gan 94 dong bao dtts viet nam co the bhyt

Các y, bác sĩ khám và tư vẫn sức khỏe cho người dân đồng bào DTTS Thủ đô. 

Bố trí kinh phí mua thẻ BHYT miễn phí cho đồng bào DTTS, tạo điều kiện cho đồng bào được khám, chữa bệnh ở tất cả cơ sở y tế trên địa bàn và được Quỹ BHYT chi trả chi phí; nguồn nhân lực khám, chữa bệnh cho đồng bào DTTS ngày càng được đảm bảo về số lượng và chất lượng, các cơ sở y tế quân – dân y tích cực khám, chữa bệnh cho nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng Làng văn hóa sức khỏe, nếp sống vệ sinh khoa học, bài trừ hủ tục, tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS, thực hiện Chương trình Dân số, kế hoạch hóa gia đình.

Trong những năm qua, với sự quan tâm, chỉ đạo của Chính phủ, công tác y tế, chăm sóc sức khỏe và BHYT cho đồng bào DTTS có nhiều chuyển biến, có thể kể đến việc ưu tiên bố trí ngân sách thực hiện chương trình mục tiêu, các chương trình, dự án để đầu tư xây dựng, nâng cấp, phát triển hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh, trang thiết bị y tế (87 trạm y tế từ Dự án hỗ trợ ngành y tế của EU giai đoạn 01, 288 trạm y tế từ Dự án Hỗ trợ ngành y tế của EU giai đoạn 02, 58 trạm y tế từ Dự án chăm sóc sức khỏe nhân dân các tỉnh Tây Nguyên của ADB giai đoạn 02...).

Năm 2016, 91% đồng bào DTTS có thẻ BHYT; năm 2017, con số này là 92,05% và năm 2018, là 93,68%. Đây là thông tin Ủy ban Dân tộc đưa ra tại Báo cáo Tổng kết 9 năm thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh.

Theo phapluatxahoi.vn

Nguồn: http://dothi.reatimes.vn/gan-94-phan-tram-dong-bao-dtts-viet-nam-co-the-bhyt-8294.html